• Wed. May 25th, 2022

Sốt kéo dài khi mắc Covid-19

ByTin Việt Nam

Feb 22, 2022

Sốt là phản ứng thường gặp của người bệnh Covid-19 nhưng nếu kéo dài, ngoài do virus SARS-CoV-2, còn có thể do nhiễm vi khuẩn hoặc virus khác.

Người già yếu, nhiều bệnh nền, người đang dùng thuốc ức chế miễn dịch, corticoid lâu ngày (viêm cầu thận, lupus, viêm đa khớp dạng thấp, ghép tạng…), bệnh nhân ung thư có thể bị virus SARS-CoV-2 nhân lên mạnh mẽ trong cơ thể nhưng không sốt. Tuy nhiên, khi sốt cao khiến cơ thể mệt mỏi do mất nước, mất điện giải, đau đầu, mất ngủ, ăn kém, gây co giật ở trẻ em… cần hạ sốt.

Lúc này, bệnh nhân cần hạ sốt bằng paracetamol, liều dùng theo lứa tuổi. Về cơ bản, paracetamol an toàn nhưng với một số ít người sẽ gây độc với gan thậm chí suy gan. Nếu bệnh nhân không dùng được paracetamol, có thể dùng ibuprofen với hàm lượng 200mg hoặc 400mg.

Ngoài dùng thuốc hạ sốt theo hướng dẫn, người bệnh cần bù đủ nước và điện giải để cơ thể bớt mệt mỏi. Điện giải chủ yếu là kali, natri và clo có trong muối ăn. Hiện, oresol, các gói bổ sung điện giải, nước dừa, nước cháo, chanh muối… là những sản phẩm thông dụng.





Nhân viên y tế phường Linh Tây (TP Thủ Đức) thăm khám và phát thuốc cho F0 điều trị tại nhà, ngày 3/9. Ảnh: Quỳnh Trần

Nhân viên y tế phường Linh Tây (TP Thủ Đức) thăm khám và phát thuốc cho F0 điều trị tại nhà, ngày 3/9. Ảnh: Quỳnh Trần

Một số trường hợp sốt kéo dài tới ngày thứ 6-7, thậm chí tới ngày thứ 10 mắc Covid-19. Ở đây, sốt có thể do virus hoặc vi khuẩn gây nên. Có 3 trường hợp xảy ra:

1. Sốt do SARS-CoV-2

Người bệnh cần test PCR hoặc test nhanh. Trường hợp chỉ số Ct thấp hoặc vạch test (T) đậm, nghĩa là virus vẫn còn nhiều và có thể tiếp tục dùng thuốc kháng virus. Ở Việt Nam hiện nay, có thể dùng molnupiravir theo chương trình thử nghiệm (5 ngày) hoặc favipiravir.

2. Sốt do nhiễm vi khuẩn

Những người bình thường dễ viêm họng, viêm a-mi-đan, viêm phế quản… khi mắc Covid cũng dễ nhiễm vi khuẩn. Tuy nhiên, việc xác định nhiễm khuẩn không dễ dàng. Nếu bệnh nhân vẫn sốt kéo dài không dứt, test nhanh vạch T mờ, không bị đau nhức cơ khớp, nhiều khả năng là sốt do vi khuẩn. Lúc này cần tham khảo ý kiến bác sĩ để sử dụng kháng sinh.

Để chắc chắn, cần có xét nghiệm công thức máu để xem bạch cầu có tăng hay không. Bạch cầu có nhiều loại, khi nhiễm khuẩn thì lượng bạch cầu hạt hay bạch cầu đa nhân trung tính sẽ tăng. Xét nghiệm CPR cũng có thể đánh giá việc có nhiễm khuẩn. Đặc biệt, có một xét nghiệm rất tốt để đánh giá tình trạng nhiễm khuẩn là procalcitonin (PCT). Thậm chí, chỉ cần dựa vào chỉ số PCT, có thể quyết định dùng hay không dùng kháng sinh, liều lượng và tình trạng cần cấp cứu.

Loại kháng sinh bắt đầu sử dụng thường là nhóm beta lactam (amoxicillin/clavulanic, ampicillin/sulbactam, ceforuxime, cefpodoxim, cefixim…). Ở người lớn, có thể kết hợp nhóm quinolon (ciprofloxacine hoặc levofloxacine, moxifloxacine), nhóm này không được dùng cho trẻ em vì gây ảnh hưởng đến sự phát triển của cơ và xương. Ở trẻ em, có thể kết hợp nhóm macrolid (erythromycine, azithromycine hoặc clarithromycine), tuy nhiên, việc kết hợp giữa beta lactam diệt khuẩn và macrolid kìm khuẩn không phải là giải pháp tối ưu.

Ngoài ra, còn có một số nhóm kháng virus khác như cyclin (tetracyclin, doxycyclin) và metronidazol…

Lưu ý, khi người bệnh đã dùng kháng sinh, cần dùng liều đủ mạnh, sau đó có thể giảm dần liều. Dùng kháng sinh cũng khiến hệ vi khuẩn ruột bị tổn thương nên phải bổ sung men tiêu hóa. Bên cạnh đó, sử dụng kháng sinh không đúng cách có thể dẫn đến nhờn thuốc, bệnh nhân cần hết sức lưu ý.

3. Sốt do nhiễm virus khác

Trường hợp này biểu hiện khi test nhanh vạch T mờ hoặc không lên, xét nghiệm không thấy nhiễm khuẩn. Đây là do nhiễm loại virus khác, không phải SARS-CoV-2. Lúc này, bệnh nhân thường bị chảy nước mũi, đau cơ khớp, ớn lạnh, sốt như cảm cúm thông thường và phải điều trị triệu chứng, đợi khi hết sốt.

Bệnh nhân có thể dùng Tamiflu hoặc Arbidol trong các trường hợp này, tuy nhiên, hiệu quả không thực sự chắc chắn. Ngoài việc xử lý sốt, người bệnh vẫn cần phải súc họng nước muối sinh lý và povidone iodin 1% hoặc chlorhexidin gluconat 0,12-0,2%, đo SpO2 thường xuyên để báo cơ quan y tế kịp thời.

BS. Nguyễn Huy Hoàng

Trung tâm Oxy cao áp Việt – Nga